Nguyên liệu mỹ phẩm

26/10/2026 10 phút đọc

Dầu hạnh nhân ngọt (Prunus Amygdalus Dulcis) trong mỹ phẩm

Dầu hạnh nhân ngọt là dầu nền quen thuộc của dầu massage và dầu dưỡng bụng bầu. Bằng chứng ngừa rạn còn hạn chế, dữ liệu trên trẻ sơ sinh chủ yếu từ bệnh viện, và nguồn gốc hạt cây là điểm chủ thương hiệu cần tính đến khi chọn đối tượng và ghi nhãn.

Dầu hạnh nhân ngọt (Prunus Amygdalus Dulcis) trong mỹ phẩm
Quả hạnh nhân chín nứt lớp vỏ ngoài, lộ vỏ hạt cứng, trên cành giữa lá xanh — dầu hạnh nhân ngọt được ép từ nhân bên trong hạt

Dầu hạnh nhân ngọt (INCI: Prunus Amygdalus Dulcis Oil; CAS 8007-69-0) là dầu béo ép hoặc chiết từ nhân hạt hạnh nhân ngọt, thành phần chính là triglycerid của acid oleic và acid linoleic. Trong mỹ phẩm, đây là chất làm mềm quen thuộc của dầu massage, dầu dưỡng thể, son dưỡng và kem dưỡng.

Cách chọn dầu nền đã có ở bài lựa chọn dầu trong bào chế; dầu trên da trẻ sơ sinh được bàn ở bài dầu hướng dương và dầu ô liu. Bài này bàn điều riêng của dầu hạnh nhân ngọt.

1. Dầu hạnh nhân ngọt là gì? Không nhầm với hạnh nhân đắng và dầu hạt mơ

Theo báo cáo của Hội đồng Đánh giá thành phần mỹ phẩm Hoa Kỳ (CIR) năm 1983, nhân hạnh nhân chứa tới khoảng 50% dầu; dầu màu rơm nhạt hoặc không màu, mùi nhẹ, không tan trong nước. Thành phần acid béo thay đổi theo nguồn hạt. So với dầu hạt mơ, một dầu cùng chi Prunus:

Acid béoHạnh nhân ngọt (CIR 2017)Hạnh nhân ngọt (CIR 1983)Hạt mơ (CIR 2017)
Oleic (C18:1)62–86%66,3–72,4%58–65,7% (tổng C18:1)
Linoleic (C18:2)20–30%18,4–22,3%29–33%
Palmitic (C16)4–9%5,7–7,9%4,6–6%
Stearic (C18)2–3%0,5–1,2%0,5–1,2%

Hạnh nhân đắng là nguyên liệu khác. Vị đắng và độc tính của hạnh nhân đắng do amygdalin, một glycosid khi thuỷ phân giải phóng hydrogen cyanide; ở giống ngọt, hai gen mã hoá enzym của bước đầu tổng hợp amygdalin không biểu hiện hoặc chỉ ở mức rất thấp (Thodberg et al., 2018). Hydrogen cyanide và muối của nó thuộc Phụ lục II (chất cấm) ASEAN, Ref 111. Nguyên liệu từ hạnh nhân đắng (kể cả tinh dầu tạo hương) và dầu hạt mơ (Prunus armeniaca) cần hồ sơ riêng; dữ liệu của chúng không gán cho dầu hạnh nhân ngọt và ngược lại. Dầu hạnh nhân hydro hoá, phần không xà phòng hoá và bột hạnh nhân cũng là các INCI riêng.

2. Cơ chế trên da

  • Lớp dầu làm mềm: CIR (1983) mô tả dầu hạnh nhân ngọt là chất làm mềm, che phủ nhẹ, giúp lớp sừng ngậm nước, mềm và dẻo hơn; dầu hấp thu chậm qua da nguyên vẹn.
  • Không chuyển dữ liệu ăn uống: nghiên cứu về ăn hạnh nhân hay uống dầu không phải bằng chứng cho sản phẩm bôi.

3. Bằng chứng: rạn da thai kỳ

Dầu hạnh nhân hay được giới thiệu cho vùng bụng khi mang thai. Kết quả không thống nhất, và cần đọc kỹ loại dầu đã dùng:

Nghiên cứuThiết kế, đối tượngCách dùngKết quả chính (theo nguồn)
Timur Taşhan và Kafkasli, 2012Bán thực nghiệm có nhóm chứng; 141 phụ nữ sinh con lần đầuDầu hạnh nhân đắng kèm massage 15 phút, hoặc chỉ bôi dầuTỷ lệ rạn 20% (dầu + massage), 38,8% (chỉ dầu), 41,2% (chứng); bôi dầu đơn thuần không có tác dụng
Hajhashemi et al., 2018Mù đôi, 160 phụ nữ chưa sinh; nhóm lô hội, dầu hạnh nhân ngọt, kem nền và nhóm không bôiBôi vùng bụng; abstract gọi là “kem”, ghi “700 g”, không nêu công thức, nồng độLô hội và dầu hạnh nhân giảm ngứa, đỏ, hạn chế rạn lan rộng so với kem nền và nhóm chứng (p < 0,05); đường kính, số vết rạn không khác
Sadat et al., 2020 (trích từ tổng quan Güner Emül và Kaplan Serin, 2026)Ngẫu nhiên, phụ nữ mang thai lần đầu: 55 dầu hạnh nhân, 55 dầu mè, 55 chứng; người đánh giá không biết nhóm1 mL xoa 5 phút, 2 lần/ngày, tuần 16–36Có rạn: 63,6% (hạnh nhân), 60,0% (mè), 58,2% (chứng); p = 0,837

Tổng quan năm 2026 (4 thử nghiệm ngẫu nhiên, 671 phụ nữ) kết luận dầu hạnh nhân ngọt, dầu mè, dầu hoa hồng không hiệu quả trong ngăn rạn. Tín hiệu khả quan năm 2012 gắn với massage và dầu hạnh nhân đắng, khớp với nhận định đã nêu ở bài rạn da. Kết luận: bằng chứng hạn chế; chỉ nên giới thiệu ở mức giữ ẩm, làm mềm da khi căng giãn.

4. Da trẻ sơ sinh: dữ liệu trong bệnh viện

Thử nghiệm ngẫu nhiên của Caglar et al. (2020): 90 trẻ sinh non 32–37 tuần tại đơn vị hồi sức sơ sinh, chia ba nhóm dầu hướng dương, dầu hạnh nhân, chứng; điều dưỡng thoa toàn thân trừ đầu, mặt, 4 mL/kg, 4 lần/ngày, 5 ngày. Hai nhóm dầu có độ ẩm lớp sừng tốt hơn nhóm chứng; điểm tình trạng da sơ sinh (NSCS, điểm cao là da kém hơn) của nhóm chứng cao hơn có ý nghĩa; hai dầu không khác nhau. Một nghiên cứu bán thực nghiệm trên 120 trẻ đủ tháng nằm hồi sức (Topçuoglu Arslan và Karakoç, 2025): dầu ô liu extra virgin cho độ ẩm cao hơn dầu hạnh nhân trong 3 ngày đầu, điểm NSCS không khác, không ghi nhận tác dụng bất lợi.

Đây là chăm sóc trong cơ sở y tế, cỡ mẫu nhỏ, thời gian ngắn — không dùng để công bố công dụng mỹ phẩm. Với trẻ khoẻ mạnh, bài da trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đã nêu: bằng chứng về dầu massage còn hạn chế; nếu dùng, chọn dầu không hương, không tinh dầu, không thoa lên da đang đỏ, rỉ dịch. Với dầu hạnh nhân, xem thêm lưu ý dị ứng ở mục 7.

5. Nồng độ thường gặp và dạng sản phẩm

Theo CIR 2017 (dữ liệu năm 2010), dầu hạnh nhân ngọt có 1.127 lần sử dụng được báo cáo. Đây là thực tế thị trường Hoa Kỳ, không phải giới hạn pháp quy:

Nhóm sản phẩm (CIR 2017, Bảng 6)Số lần sử dụngDải nồng độ
Lưu lại trên da7910,001–77%
Rửa trôi3360,0001–43%
Vùng quanh mắt280,1–22%
Tiếp xúc niêm mạc93<0,1–23%
Sản phẩm cho em bé142–3%

6. Độ ổn định và bảo quản

CIR (1983) ghi nhận dầu hạnh nhân ngọt tự oxy hoá như các dầu béo khác, nhanh hơn khi nhiệt độ tăng; chỉ số peroxide và chỉ số acid thay đổi rõ sau 10 tuần ở nhiệt độ phòng (20–28 °C); thêm chất chống oxy hoá làm độ bền tăng đáng kể. Thực hành nhà máy: pha dầu có Tocopherol, bao bì kín khí và cản sáng, theo dõi chỉ số peroxide theo lô.

7. An toàn, ai cần lưu ý

  • CIR: kết luận an toàn năm 1983, xem lại không mở lại năm 2005, và nằm trong 244 dầu thực vật được kết luận an toàn theo thực tế sử dụng và nồng độ năm 2017. Dầu nguyên chất không kích ứng, không mẫn cảm khi thử áp lặp lại trên 52 người; công thức chứa 0,1–25% dầu thực tế không kích ứng, không mẫn cảm trên tổng cộng 6.906 người (kết quả của cả công thức).
  • Dị ứng hạt cây: CIR nhận định người dị ứng thực phẩm với một loại cây hiếm khi phản ứng với dầu tinh luyện của cây đó. Tuy vậy đã có ca được công bố: bé 5 tháng tuổi bị viêm da cơ địa có viêm da tiếp xúc với hạnh nhân, thử áp và test lẩy da dương tính, IgE kháng hạnh nhân nhóm 4; các mảng chàm tương ứng với việc thoa dầu hạnh nhân 2 tháng lên má và mông, trong khi bé chưa từng ăn hạnh nhân (Guillet và Guillet, 2000). Chúng tôi chưa tìm thấy số liệu công bố về lượng protein còn lại trong dầu hạnh nhân tinh luyện, nên không thể nói “không gây dị ứng”. Người đã biết dị ứng hạnh nhân hoặc hạt cây nên hỏi bác sĩ dị ứng trước khi dùng; trẻ bị viêm da cơ địa cần hỏi bác sĩ trước khi thoa sản phẩm chứa dầu hạt lên vùng da tổn thương.
  • Phụ nữ mang thai, cho con bú: một nghiên cứu hồi cứu tại ba bệnh viện ở Ý (700 phụ nữ) thấy người bôi dầu hạnh nhân hằng ngày có nguy cơ sinh non cao hơn sau hiệu chỉnh (OR 2,09; KTC 95% 1,08–4,08); tác giả nói đây mới là giả thuyết cần xác nhận (Facchinetti et al., 2012). Chưa đủ dữ liệu, nên hỏi bác sĩ trước khi dùng; các lưu ý chung khi chọn mỹ phẩm trong thai kỳ có ở bài da khi mang thai.

8. Góc nhìn cho chủ thương hiệu

  • Hồ sơ nguyên liệu: COA ghi loài và bộ phận (nhân hạt hạnh nhân ngọt), tinh luyện hay ép lạnh, thành phần acid béo, chỉ số peroxide, chỉ số acid, chất chống oxy hoá đã thêm.
  • Ghi nhãn: Thông tư 06/2011/TT-BYT (Điều 18, khoản 1, điểm c) yêu cầu ghi đầy đủ thành phần theo danh pháp INCI. Trong Thông tư này và các Phụ lục ASEAN đã tra, chúng tôi không thấy cảnh báo bắt buộc riêng cho nguyên liệu từ hạt cây; Phụ lục III chỉ có mục dầu và dẫn xuất đậu phộng (Ref 322, protein đậu phộng tối đa 0,5 ppm), không có mục tương tự cho hạnh nhân. Tên INCI trên nhãn là căn cứ để người dị ứng nhận biết.
  • Pháp quy ASEAN: Prunus Amygdalus Dulcis Oil không có tên trong Phụ lục II, III, VI (bản 2026-1, 22/06/2026) và VII (bản 2025-2); đã tra “almond”, “amygdal”, “dulcis”, “prunus”, CAS 8007-69-0 và 90320-37-9.
  • Công bố công dụng: “làm mềm da”, “dưỡng ẩm”, “giúp da bớt khô ráp”. Tránh “chống rạn”, “ngừa rạn”, “an toàn cho mẹ bầu”, “an toàn cho trẻ sơ sinh”, “không gây dị ứng”.

Butter-C ứng dụng dầu hạnh nhân ngọt trong gia công dầu massage và bơ dưỡng thể, với COA từng lô và chất chống oxy hoá trong pha dầu.

Câu hỏi thường gặp

Bôi dầu hạnh nhân có ngừa được rạn da khi mang thai không?

Chưa có bằng chứng đủ mạnh. Một thử nghiệm ngẫu nhiên với dầu hạnh nhân ngọt không thấy khác nhóm chứng về tỷ lệ rạn; một thử nghiệm khác thấy giảm ngứa, đỏ nhưng số vết rạn không khác; tín hiệu khả quan năm 2012 gắn với massage và dầu hạnh nhân đắng.

Dầu hạnh nhân ngọt khác dầu hạnh nhân đắng thế nào?

Hạnh nhân đắng chứa amygdalin, chất có thể giải phóng hydrogen cyanide; giống ngọt gần như không tạo chất này. Nguyên liệu từ hạnh nhân đắng cần hồ sơ riêng.

Có nên massage cho trẻ sơ sinh bằng dầu hạnh nhân?

Dữ liệu chủ yếu từ trẻ nằm hồi sức, cỡ mẫu nhỏ. Trẻ bị viêm da cơ địa hoặc gia đình có người dị ứng: nên hỏi bác sĩ trước, vì đã có ca bé mẫn cảm với hạnh nhân, được cho là qua da.

Người dị ứng hạnh nhân có dùng được không?

Dầu tinh luyện hiếm khi gây phản ứng ở người dị ứng thực phẩm, nhưng không loại trừ được. Nên hỏi bác sĩ dị ứng và đọc tên INCI trên nhãn.

Phụ nữ mang thai có dùng được không?

Chưa đủ dữ liệu, nên hỏi bác sĩ trước khi dùng.

Tài liệu tham khảo

  1. Burnett CL et al. Safety Assessment of Plant-Derived Fatty Acid Oils. Int J Toxicol. 2017. PMID 29243540 · toàn văn trên cổng CIR · Elder RL (ed.). Final Report on the Safety Assessment of Sweet Almond Oil and Almond Meal. J Am Coll Toxicol. 1983. https://cir-reports.cir-safety.org/view-attachment?id=0c28bd92-8d74-ec11-8943-0022482f06a6
  2. Thodberg S et al. Elucidation of the Amygdalin Pathway Reveals the Metabolic Basis of Bitter and Sweet Almonds (Prunus dulcis). Plant Physiol. 2018. PMID 30297455
  3. Timur Taşhan S et al. The effect of bitter almond oil and massaging on striae gravidarum in primiparaous women. J Clin Nurs. 2012. PMID 22594386
  4. Hajhashemi M et al. The effect of Aloe vera gel and sweet almond oil on striae gravidarum in nulliparous women. J Matern Fetal Neonatal Med. 2018. PMID 28521546
  5. Güner Emül T et al. Effect of Aromatherapy Oil Applications on Strıae Gravidarum: A Systematic Review. Skin Res Technol. 2026. PMID 41988841
  6. Caglar S et al. The Effect of Sunflower Seed and Almond Oil on Preterm Infant Skin: A Randomized Controlled Trial. Adv Skin Wound Care. 2020. PMID 32697476 · Topçuoglu Arslan İZ et al. Effect of Almond and Extra Virgin Olive Oils on Maintaining Skin Integrity in Neonates Admitted to the Neonatal Intensive Care Unit. Adv Skin Wound Care. 2025. PMID 40184517
  7. Guillet G et al. [Percutaneous sensitization to almond oil in infancy and study of ointments in 27 children with food allergy]. Allerg Immunol (Paris). 2000. PMID 11244925
  8. Facchinetti F et al. Herbal supplements in pregnancy: unexpected results from a multicentre study. Hum Reprod. 2012. PMID 22926840

Thảo luận

Bình luận

Đang tải bình luận…

Gửi bình luận

Bình luận được Butter-C duyệt trước khi hiển thị. Email chỉ dùng để phản hồi bạn khi cần, xem Chính sách bảo mật.

Bắt đầu

Trao đổi về sản phẩm Quý khách dự định triển khai

Quý khách vui lòng gửi định hướng sản phẩm và sản lượng dự kiến. Đội ngũ tư vấn sẽ liên hệ trong giờ làm việc.

Công ty cổ phần Dược mỹ phẩm Butter-C · GCN ĐKKD số 0108681386 (Sở KH&ĐT TP. Hà Nội cấp 03/04/2019)
Trụ sở: Thôn Hữu Lê, xã Đại Thanh, TP. Hà Nội · Nhà máy: Cụm CN Thanh Oai, xã Bình Minh, TP. Hà Nội, Việt Nam
Hotline 0967 176 511 · [email protected] · Chính sách bảo mật
← Tất cả tin tức