Nguyên liệu mỹ phẩm

24/10/2026 10 phút đọc

Hà thủ ô (Polygonum multiflorum) trong mỹ phẩm: dữ liệu, an toàn

Hà thủ ô là thảo mộc quen thuộc trên nhãn dầu gội Việt với lời hứa “đen tóc, mọc tóc”. Dữ liệu hiện có chủ yếu từ tế bào, động vật và nang tóc tách rời; còn cảnh báo tổn thương gan thuộc bối cảnh uống, không phải bôi ngoài.

Hà thủ ô (Polygonum multiflorum) trong mỹ phẩm: dữ liệu, an toàn
Mái tóc dài màu nâu đen nhìn từ phía sau trên nền trắng — ảnh minh hoạ chủ đề chăm sóc tóc, không phải kết quả dùng sản phẩm chứa hà thủ ô

Chiết xuất rễ hà thủ ô đỏ (INCI: Polygonum Multiflorum Root Extract) là dịch chiết từ rễ củ cây hà thủ ô đỏ (Polygonum multiflorum, họ Rau răm), được đưa vào dầu gội, dầu gội phủ bạc và tinh chất da đầu chủ yếu để tạo câu chuyện thảo mộc. Danh mục CosIng của EU chỉ ghi cho INCI này chức năng dưỡng da (skin conditioning), không ghi chức năng nào về màu tóc hay mọc tóc.

Bài viết tách ba lớp thông tin hay bị trộn lẫn: kinh nghiệm dân gian (chủ yếu dùng đường uống), dữ liệu phòng thí nghiệm và động vật, và những gì đã thấy trên người.

1. Hà thủ ô đỏ là gì?

Theo CosIng, INCI Polygonum Multiflorum Root Extract là chiết xuất rễ cây Polygonum multiflorum, không có số CAS hay EC riêng. Các mục CosIng liên quan ghi tên khoa học được chấp nhận của loài là Fallopia multiflora; một số tài liệu mới dùng tên Reynoutria multiflora, và CosIng đã có thêm INCI riêng Reynoutria Multiflora Root Extract (chiết xuất rễ). Khi đối chiếu hồ sơ nhà cung cấp, Quý khách nên kiểm tra cả hai tên. Cần phân biệt với Polygonatum multiflorum — một cây khác hẳn, CosIng xếp vào họ Măng tây (Asparagaceae), tên Latin chỉ khác vài chữ.

Hơn 100 hợp chất đã được phân lập từ cây hà thủ ô, chủ yếu thuộc nhóm stilben, quinon và flavonoid (Lin và cộng sự, 2015). Ba chất hay được nhắc tới:

Hoạt chất đánh dấuNhómCông thức, khối lượng phân tử (PubChem)
2,3,5,4′-tetrahydroxystilbene-2-O-β-D-glucoside (TSG)Stilben glycosidC20H22O9; 406,4
EmodinAnthraquinonC15H10O5; 270,24
PhyscionAnthraquinonC16H12O5; 284,26

Cùng tổng quan đó ghi nhận chín loài thuộc sáu họ thực vật từng bị dùng lẫn với hà thủ ô, nên phiếu kiểm nghiệm (COA) cần nêu đúng loài, bộ phận và phương pháp định danh.

2. Dân gian nói gì, nghiên cứu đo được gì

Theo kinh nghiệm dân gian và y học cổ truyền Trung Hoa, rễ hà thủ ô (chủ yếu dùng đường uống) được cho là làm đen tóc (Lin và cộng sự, 2015) — kinh nghiệm dân gian, chưa phải công dụng đã được chứng minh. Bảng dưới ghi rõ loại bằng chứng của từng nghiên cứu.

Nghiên cứuMô hìnhKết quả chính (theo abstract)Loại bằng chứng
Thang và cộng sự, 2017 (Đại học Quốc gia Hà Nội)Chiết xuất rễ trên tế bào u hắc tố người SKMEL-28 và phôi, ấu trùng cá ngựa vằnTăng tổng hợp melanin có ý nghĩa, qua con đường MC1R/MITF/tyrosinaseIn vitro và động vật
Sextius và cộng sự, 2017Tế bào hắc tố người nuôi cấy chịu stress H2O2; nang tóc người nuôi cấy ex vivoGiảm gốc oxy hoạt động, giảm chết tế bào; nang tóc ex vivo có lượng melanin cao hơn nhóm chỉ dùng tá dượcIn vitro, ex vivo; tác giả thuộc doanh nghiệp mỹ phẩm
Park và cộng sự, 2011Bôi chiết xuất lên da lưng đã cạo lông của chuột C57BL/6N ở pha nghỉKích hoạt pha tăng trưởng (anagen) ở nang lông đang nghỉ; số lượng và kích thước nang lông tăngĐộng vật, bôi ngoài
Feng và cộng sự, 2026Dầu gội chứa chiết xuất rễ gừng, hà thủ ô và lá trắc bá; 41 người rụng tóc tiết bã so với 29 người khoẻ, 12 tuầnGiảm rụng tóc và bã nhờn da đầu, hệ vi sinh da đầu trở về gần nhóm khoẻ (abstract không nêu số liệu)Trên người, nhiều thành phần, không có nhóm dùng sản phẩm đối chứng nêu trong abstract; có tác giả thuộc doanh nghiệp hoá chất

Ba điểm cần nhớ khi đọc bảng:

  • Tế bào và chuột không phải da đầu người. Tăng melanin trong tế bào u hắc tố hay phôi cá không cho biết dầu gội xả sau vài phút tác động gì lên nang tóc.
  • Kết quả của sản phẩm nhiều thành phần thuộc về cả công thức. Nghiên cứu của Feng và cộng sự đánh giá một dầu gội có ba chiết xuất, trên người có bệnh lý tóc; không tách được phần đóng góp của hà thủ ô.
  • Dữ liệu đường uống không chuyển sang bôi ngoài. Liều, đường hấp thu và chuyển hoá khác hẳn một dầu gội.

Trong các nguồn đã tra trên PubMed (10/2026), chưa có thử nghiệm có nhóm chứng trên người đánh giá riêng chiết xuất hà thủ ô bôi ngoài cho tóc bạc hay rụng tóc. Mức bằng chứng cho công dụng trên tóc: bằng chứng hạn chế.

3. Nồng độ và dạng sản phẩm

Chưa có báo cáo đánh giá an toàn của CIR (Hoa Kỳ) cho chiết xuất này, nên không có số liệu khảo sát nồng độ dùng thực tế đã kiểm. Các abstract trong bảng trên không nêu nồng độ có thể quy đổi sang mỹ phẩm. Nồng độ đưa vào công thức nên theo phiếu kỹ thuật (TDS) của nhà cung cấp, kèm tỷ lệ chiết và dung môi nền, rồi xác nhận bằng nghiên cứu ổn định và thử dung nạp trên thành phẩm.

Dạng thường gặp: dầu gội thảo mộc, dầu gội phủ bạc, tinh chất da đầu. Dịch chiết màu nâu nên cần thử ổn định màu, mùi của thành phẩm.

4. An toàn: đường uống và bôi ngoài là hai chuyện khác nhau

Đường uống: tổn thương gan đã được ghi nhận rõ

Hà thủ ô dùng đường uống (dược liệu sống hoặc đã chế, thuốc sắc, chế phẩm đông dược) liên quan tới tổn thương gan. Một tổng quan hệ thống tổng hợp 450 ca trong 76 bài báo (tìm tới 6/2014): triệu chứng thường xuất hiện khoảng một tháng sau khi dùng, gồm vàng da, mệt, chán ăn; 7 người tử vong, 2 người phải ghép gan, 441 người hồi phục hoặc cải thiện sau khi ngừng dùng (Lei và cộng sự, 2015).

Li và cộng sự (2019) mô tả đây là tổn thương gan kiểu đặc ứng — chỉ xảy ra ở một số người. Trong nhóm 11 người bị tổn thương gan do hà thủ ô ở giai đoạn đầu của nghiên cứu, tần suất HLA-B*35:01 là 45,4%, so với 2,7% ở quần thể người Hán; trong nhóm 72 người dùng hà thủ ô 4 tuần, men gan tăng không triệu chứng ở 37,5% người mang alen so với 4,7% người không mang. Theo tổng quan của Liu và cộng sự (2019), cơ quan quản lý dược của Anh, Canada và Úc đã phát thông báo về nguy cơ này; Butter-C chưa tải được văn bản gốc của các cơ quan đó.

Bôi ngoài: dữ liệu rất ít, nhưng không có tín hiệu tương tự

Mọi dữ liệu gan nêu trên thuộc đường uống. Trong các nguồn đã tra, chưa tìm thấy báo cáo tổn thương gan do sản phẩm bôi hay dầu gội chứa hà thủ ô, cũng chưa tìm thấy báo cáo dị ứng tiếp xúc riêng với chiết xuất này. Không thấy báo cáo không đồng nghĩa với đã chứng minh an toàn: đây là khoảng trống dữ liệu, cần bù bằng thử dung nạp trên thành phẩm.

  • Người từng bị tổn thương gan do hà thủ ô đường uống nên hỏi bác sĩ trước khi dùng sản phẩm có thành phần này.
  • Phụ nữ mang thai, cho con bú: chưa đủ dữ liệu, nên hỏi bác sĩ.
  • Trong dầu gội phủ bạc, nguy cơ dị ứng chủ yếu đến từ chất nhuộm oxy hoá; chiết xuất thảo mộc không làm giảm nguy cơ đó (xem bài tóc bạc và nhuộm phủ bạc).

5. Góc nhìn cho chủ thương hiệu

  • Pháp quy ASEAN: Polygonum Multiflorum Root Extract, Reynoutria Multiflora và Fallopia multiflora không có trong Phụ lục II, III, VI (bản 2026-1, 06/2026) và VII (bản 2025-2). Emodin, physcion và TSG cũng không có tên. Phụ lục II, Ref 1603 cấm “9,10-anthraquinone / Anthraquinone” (CAS 84-65-1) — đây là hợp chất gốc, không phải emodin hay physcion.
  • Công bố công dụng: Phụ lục 03-MP (Thông tư 06/2011/TT-BYT) liệt kê các câu không được chấp nhận cho sản phẩm chăm sóc tóc: “Loại bỏ gàu vĩnh viễn”, “Phục hồi tế bào tóc/nang tóc”, “Làm dày sợi tóc”, “Chống rụng tóc”, “Kích thích mọc tóc”. Phụ lục không nêu riêng tóc bạc; hướng dẫn ASEAN ghi tác dụng của mỹ phẩm thường không vĩnh viễn và phải dùng đều để duy trì. Theo cách đọc của Butter-C, “làm đen tóc từ gốc”, “ngăn tóc bạc” ngụ ý tác động lên nang tóc nên nằm ngoài phạm vi mỹ phẩm.
  • Hồ sơ nguyên liệu: COA ghi loài, bộ phận (rễ), dung môi, tỷ lệ chiết; đề nghị nhà cung cấp nêu hàm lượng TSG, anthraquinon nếu có.
Không dùngCách nói phù hợp
“Làm đen tóc”, “ngăn tóc bạc”, “hết tóc bạc từ gốc”“Có chiết xuất hà thủ ô”; với sản phẩm nhuộm: “nhuộm phủ tóc bạc màu đen, nâu”
“Kích thích mọc tóc”, “chống rụng tóc”“Chăm sóc tóc và da đầu”; “hạn chế gãy rụng tóc do chải gỡ” (khi đã thử gãy tóc trên thành phẩm)
“Thảo dược lành tính”, “hoàn toàn thiên nhiên” khi công thức có chất nhuộm oxy hoáGhi đúng thành phần; in đủ cảnh báo bắt buộc của Phụ lục III cho chất nhuộm

Butter-C ứng dụng chiết xuất hà thủ ô trong gia công dầu gội thảo mộc và dầu gội phủ bạc ở vai trò thành phần thảo mộc, với câu công bố rà soát theo Phụ lục 03-MP. Xem thêm: rụng tóc và gãy tóc, chiết xuất gừng.

Câu hỏi thường gặp

Dầu gội hà thủ ô có làm tóc bạc đen lại không?

Chưa có thử nghiệm trên người cho thấy điều đó; dữ liệu tăng melanin đến từ tế bào, phôi cá và nang tóc tách rời. Dầu gội phủ bạc tạo màu bằng chất nhuộm, không phải bằng hà thủ ô.

Hà thủ ô có giúp mọc tóc không?

Trên chuột, chiết xuất bôi ngoài kích hoạt pha tăng trưởng của nang lông (Park và cộng sự, 2011), nhưng chưa có thử nghiệm có nhóm chứng trên người với chiết xuất bôi riêng lẻ. “Kích thích mọc tóc” cũng là câu không được chấp nhận cho mỹ phẩm.

Hà thủ ô gây hại gan, vậy dầu gội có nguy hiểm không?

Các ca tổn thương gan được ghi nhận khi uống hà thủ ô. Chưa tìm thấy báo cáo tương tự với dầu gội hay sản phẩm bôi. Người từng bị tổn thương gan do hà thủ ô nên hỏi bác sĩ trước khi dùng.

“Hà thủ ô đỏ” trên nhãn và Reynoutria multiflora có giống nhau không?

Cùng một loài cây. CosIng ghi Fallopia multiflora là tên khoa học được chấp nhận của Polygonum multiflorum; Reynoutria multiflora là tên một số tài liệu mới dùng. CosIng có hai INCI cho chiết xuất rễ: Polygonum Multiflorum Root Extract và Reynoutria Multiflora Root Extract.

Phụ nữ mang thai có dùng dầu gội hà thủ ô được không?

Chưa đủ dữ liệu, nên hỏi bác sĩ trước khi dùng.

Tài liệu tham khảo

  1. Thang ND et al. Polygonum multiflorum root extract as a potential candidate for treatment of early graying hair. J Adv Pharm Technol Res. 2017. PMID 28217548
  2. Sextius P et al. Polygonum multiflorum Radix extract protects human foreskin melanocytes from oxidative stress in vitro and potentiates hair follicle pigmentation ex vivo. Int J Cosmet Sci. 2017. PMID 28109001
  3. Park HJ et al. Topical application of Polygonum multiflorum extract induces hair growth of resting hair follicles through upregulating Shh and β-catenin expression in C57BL/6 mice. J Ethnopharmacol. 2011. PMID 21419834
  4. Feng J et al. Scalp Microbiota Dysbiosis in Seborrheic Alopecia and Restoration Following Herbal Extract Shampoo Intervention. Microorganisms. 2026. PMID 42197490
  5. Lei X et al. Liver Damage Associated with Polygonum multiflorum Thunb.: A Systematic Review of Case Reports and Case Series. Evid Based Complement Alternat Med. 2015. PMID 25648693
  6. Li C et al. HLA-B*35:01 Allele Is a Potential Biomarker for Predicting Polygonum multiflorum-Induced Liver Injury in Humans. Hepatology. 2019. PMID 30985007
  7. Lin L et al. Traditional usages, botany, phytochemistry, pharmacology and toxicology of Polygonum multiflorum Thunb.: a review. J Ethnopharmacol. 2015. PMID 25449462; Liu Y et al. Polygonum multiflorum-Induced Liver Injury: Clinical Characteristics, Risk Factors, Material Basis, Action Mechanism and Current Challenges. Front Pharmacol. 2019. PMID 31920657
  8. European Commission. CosIng — Polygonum Multiflorum Root Extract (https://ec.europa.eu/growth/tools-databases/cosing/details/79006); ASEAN Cosmetic Committee. Appendix III – ASEAN Cosmetic Claims Guidelines (https://file.go.gov.sg/appendix-iii-asean-cosmetic-claims-guidelines.pdf); NCBI PubChem: TSG (https://pubchem.ncbi.nlm.nih.gov/compound/5321884), emodin (CID 3220), physcion (CID 10639)

Thảo luận

Bình luận

Đang tải bình luận…

Gửi bình luận

Bình luận được Butter-C duyệt trước khi hiển thị. Email chỉ dùng để phản hồi bạn khi cần, xem Chính sách bảo mật.

Bắt đầu

Trao đổi về sản phẩm Quý khách dự định triển khai

Quý khách vui lòng gửi định hướng sản phẩm và sản lượng dự kiến. Đội ngũ tư vấn sẽ liên hệ trong giờ làm việc.

Công ty cổ phần Dược mỹ phẩm Butter-C · GCN ĐKKD số 0108681386 (Sở KH&ĐT TP. Hà Nội cấp 03/04/2019)
Trụ sở: Thôn Hữu Lê, xã Đại Thanh, TP. Hà Nội · Nhà máy: Cụm CN Thanh Oai, xã Bình Minh, TP. Hà Nội, Việt Nam
Hotline 0967 176 511 · [email protected] · Chính sách bảo mật
← Tất cả tin tức